Trang chủ   Giới thiệu   Liên hệ
   
News > Tìm hiểu Phật giáo > _ARTICLECONTENT  

Vai trò người con gái của Đức Phật

[01.12.2014 14:49]


Vai trò người nữ  Cư sĩ Phật tử luôn được đánh giá cao, họ là những người luôn bên cạnh Giáo hội cùng Chư tôn đức chung vai gánh vác Phật , là những người trợ duyên đắc lực ,phát tâm công đức trí tuệ tham mưu cho các vị xuất gia hộ trì Tam Bảo góp phần xây dự chính Pháp rạng ngời giữa cuộc đời  khẳng định rõ khả năng trí tuệ của người phụ nữ không thua kém gì nam giới

ĐứcPhật dạy “ Những người phụ nữ có trí tuệ tự tin sẽ mãi làm rạng ngời cho Phật pháp



Kính gửi Cư sĩ Diệu Nhân – Nguyễn Thị Xuân Loan

     Nhân dịp Kỷ niệm ngày tôn vinh người con gái đức Phật, cá nhân tôi người luôn được Cư sĩ dìu dắt không biết nói gì hơn là kính chúc Cư sĩ luôn mạnh khỏe, an lạc dưới ánh từ quang của Đức Phật. Để thể hiện tấm lòng tri ân của  mình, xin kính tặng Cư sĩ bài viết: Hình ảnh người nữ trong Phật giáo   


Phật giáo truyền vào Việt Nam trên 2000 năm lịch sử luôn đồng hành cùng dân tộc, hoằng truyền chính pháp lợi lạc quần sinh để Phật pháp trụ thế dài lâu là trách nhiệm của người con Phật. Đến với Phật pháp cũng là nhân duyên, những người con Phật có trách nhiệm chắp nối nhân duyên cho nhau để thâm nhập giáo lý vi diệu của Như Lai. Nhìn lại lịch sử Phật giáo Việt Nam thời Lý, theo sử sách Những người con gái tiêu biểu của Đức Phật: “có Ni sư Diệu Nhân, bà là vị Ni đầu tiên, duy nhất, nổi bật nhất, ngoài ra trước nữa không thấy một ai khác”. Và thời hiện tại đây, cô Xuân Loan sinh ra trong gia đình có truyền thống tín ngưỡng Phật giáo, lại có nhân duyên Phật pháp từ nhiều kiếp, có tuệ căn Phật pháp, quy y Tam Bảo tu trì theo giáo lý Phật đà. Hy hữu thay từ khi còn nhỏ tuổi cô may mắn được Đức đệ nhị Pháp Chủ Thích Tâm Tịch ban tặng  pháp danh cho cô là Diệu Nhân với hy vọng sau này cô sẽ trở thành con người tuyệt diệu, tu tập tinh tiến, luôn khuyến hóa mọi người, luôn lắng nghe và chia sẻ tâm tư nguyện vọng của mọi người như người mẹ hiền. Đúng với ý nghĩa: Diệu: là màu nhiệm không thể nghĩ bàn (Bất khả tư nghì), là “Sự kỳ diệu” diệu đến mức tâm không thể nghĩ tới, lời không thể bàn được. Tâm không thể nghĩ tới, tức là không thể dùng tâm để nghĩ tưởng đến được, nghĩ tới nghĩ lui cũng không ra. Nếu nghĩ ra thì nó đã không phải là diệu rồi! Tóm lại, cái gì nghĩ không tới, nói càng không được, chính là chữ “diệu”. Khi “không phân biệt, không suy lường”, đó chính là diệu! Nếu đến được cảnh giới “không suy lường, không phân biệt”, thì “trong không có thân tâm, ngoài không có thế giới, thoát khỏi mọi căn trần”. Thoát khỏi căn trần chính là lục căn đã không, lục trần đã tiêu. Đó chính là diệu! Mỗi cử động, mỗi lời nói hành vi của chúng ta hiện tại không gì không phải là diệu; cho nên, giảng sâu cũng là diệu, giảng cạn cũng vẫn là diệu. Diệu này, nếu nói ra thì rất nhiều rất dài, cho nên Đại sư Trí Giả của tông Thiên Thai nói “cửu tuần đàm diệu”, tức là suốt 90 ngày chỉ nói một chữ “diệu” cũng không hết.

 Theo Phật Quang đại từ điển thì Nhân là: Nguyên nhân dẫn sinh ra kết quả. Nói theo nghĩa hẹp thì nguyên nhân bên trong trực tiếp dẫn sinh ra kết quả, gọi là Nhân (nội nhân = nhân bên trong), Nhưng, nói theo nghĩa rộng, tất cả những điều kiện góp phần vào việc dẫn sinh ra kết quả và giúp cho vạn vật sinh tồn, biến hóa, thì đều được gọi là Nhân. Ngoài ra Nhân còn mang một ý nghĩa nữa nghĩa là người, mà người ở đây là người kỳ diệu, ( như Quán Thế Âm Bồ tát, Ngài luôn ẩn hiện các ứng thân hóa độ chúng sinh, quán xét âm thanh cứu khổ tiếp dẫn).

  Giờ đây, với cương vị ủy viên Hội đồng trị sự trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, phó thư ký ban hướng dẫn Phật tử TW, Cư sĩ Diệu Nhân – Nguyễn Thị Xuân Loan, vẫn luôn tâm huyết, nhiệt tình mọi công việc, đặc biệt cô  luôn quan tâm hàng thanh niên Phật tử là thế hệ tương lai của đất nước làm tốt Đạo đẹp đời phụng sự Đạo pháp – dân tộc. Thế là thời Lý có Ni sư Diệu Nhân – vị tu sĩ nữ đầu tiên và xuất sắc nhất, thì thời nay có Cư sĩ Diệu Nhân là nữ Phật tử đầu tiên tham gia vào Hội đồng trị sự. Thật là duyên lành hy hữu! 



Hình ảnh người nữ trong Phật giáo

     Khi nhìn lại nước Ấn-độ thời thượng cổ, quyển Rigveda, một tác phẩm văn học lâu đời nhất còn lưu trữ được, đã đề cập rất rõ ràng là phụ nữ có một thế đứng rất vững chãi và vinh dự trong xã hội Ấn thời đó. Trong tác phẩm văn học này, tác giả một vài bài thơ văn tán tụng cũng là phái nữ. Người nữ được quyền tham gia tất cả nghi thức tôn giáo và được tìm hiểu học hỏi mọi kiến thức cao cấp nhất. Chính những nhận xét như thế đã cho chúng ta thấy ảnh hưởng của đạo Phật tác động mạnh mẽ vào thế kỷ thứ V trước Công nguyên khi Phật còn tại thế.

Nhưng chúng ta không thể cho rằng Đức Phật đã đưa ra kế hoạch vận động dân chủ và bình quyền cho phái nữ ở Ấn-độ. Mà thật ra lời giáo huấn của Ngài đã tạo ít nhiều những làn sóng chống đối lại giáo điều và sự cuồng tín của Bà-la-môn. Đức Phật lên án chế độ đẳng cấp đương thời của người Bà-la-môn, cùng với quá nhiều những lễ nghi và cúng tế thần linh. Ngài bác bỏ sự hiện hữu của một Giáo chủ duy nhất, và nhấn mạnh về lời dạy của Ngài là mọi người đều có thể đạt tới giải thoát theo sự cố gắng hành trì của chính bản thân mình. Đó là giáo điều căn bản của Đạo Phật – ai cũng có thể chứng quả giải thoát - vì mọi chúng sinh đều có Phật tính ngang nhau. Và đây là lời dạy hoàn toàn đi ngược lại với uy thế tối cao của đàn ông. Phải là một người rất can đảm và đầy đủ nghị lực mới dám tuyên bố và đưa người phụ nữ lên ngang hàng và bình quyền với phái nam trong thời điểm đó. Vì thấy được khả năng tâm linh của người nữ cũng bằng với người nam, Đức Phật đã tạo dựng nên một Ni đoàn đông đảo sau một thời gian dài lưỡng lự, và đây là một tổ chức tập thể người nữ đầu tiên thời bấy giờ. Tứ chúng của Phật giáo gồm có Tỷ khiêu, Tỷ khiêu ni, Ưu-bà-tắc, và Ưu-bà-di; và như thế người nữ không bị loại ra ngoài vòng hoạt động tâm linh hay tôn giáo nào cả. Nếu người nam chứng đắc quả vị tột đỉnh, thì người nữ cũng có thể đi tới đó bằng chính công phu tu tập của họ. Như thế chúng ta có thể khẳng định và đồng ý là Phật giáo đã đưa nữ giới lên mức độ xấp xỉ bình đẳng ngang hàng với phái nam.

1. Phật giáo với bình đẳng giới

Vào thời Đức Phật, hai vấn đề xã hội nghiêm trọng nhất là sự phân biệt nam nữ và sự phân biệt giai cấp: Bà-la-môn, Sát-đế-lỵ, Phệ-xá, và Thủ-đà-la. Đức Phật đã phê bác những sự phân biệt này. Tuy vậy, có người vẫn thắc mắc về việc lúc đầu Đức Phật không đồng ý cho lập Ni đoàn, về việc chế Bát kỉnh pháp buộc chư Ni suốt đời phải kính trọng Tăng, về việc Ngài bảo nếu có Ni đoàn thì Chánh pháp bị mất đi 500 năm tồn tại. Ta cần nhớ rằng vào thời ấy, người phụ nữ bị khinh khi, không có giáo đoàn nào chấp nhận phụ nữ. Họ không được học hành, trình độ trí tuệ, văn hóa thấp kém do hàng ngàn năm phải sống như nô lệ. Những tuyên bố của Đức Phật chỉ có tính cách răn dạy và cần được hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ…Bằng chứng là Ngài chấp nhận Ni đoàn, Ngài dạy dỗ chư Ni và rất nhiều vị Ni đạt thánh quả. Trong Trưởng lão Ni kệ, ta tìm thấy 73 trường hợp chứng  đắc A-la-hán của chư Tỳ-kheo ni, và hiển nhiên còn rất nhiều vị Ni đắc A-la-hán chưa được kể hết. Đó là các nữ Tôn giả như Maha Pajapati Gotama (Kiều-đàm-di), Khema, Uppalavana, Kisagotami, Sona, Bhadda Kundalakesa, Patacara, Dhammadina, Sumana, Ubiri, Subba, Siha…Các nữ đệ tử chứng đắc của Đức Phật là những vị trí tuệ cao vời, có thần thông, đã là những nhà thuyết giảng tài ba. Hoàng hậu Malliaka (Mạt-lỵ) giảng cho vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) về ái, ái sinh khổ (Kinh Ái Sinh, Trung A-hàm; Kinh Piyajatika, Trung Bộ); nữ Tôn giả Khema giảng cho vua Pasenadi về ý nghĩa tuyệt đối, bất khả tư nghì, về Như Lai (Kinh Tương Ưng Bộ IV )…

Sự khác biệt nam nữ chỉ là giả tạo, chỉ lấy tướng trạng mà phân biệt. Trong kinh Duy-ma-cật, phẩm 7, ta thấy có kể chuyện một thiên nữ đệ tử của Phật có thần thông, có trí tuệ, đã đối đáp với Tôn giả Xá-lợi-phất về sự vô phân biệt trong Phật pháp, về giả tướng; và để giải đáp cho câu hỏi của Tôn giả Xá-lợi-phất vì sao chuyển sang thân nam giới, vị thiên nữ đã trả lời, “Mười hai năm nay con cố tìm tướng nữ thân mà không thấy thì chuyển thân là chuyển cái gì?” Kinh Pháp Hoa, phẩm Đề-bà-đạt-đa kể chuyện Long Nữ được Bồ-tát Văn-thù hóa đạo liền thành Phật ngay đó.

Trong kinh Tương Ưng Bộ, phẩm Tăng trưởng, kinh Tăng trưởng Nữ nhân, Đức Phật đã ca ngợi, khích lệ các nữ đệ tử của Ngài như sau: “Tăng trưởng về lòng tin, tăng trưởng về giới hạnh, tăng trưởng về nghe nhiều, tăng trưởng về thí xả, tăng trưởng về trí tuệ; này các Tỳ-kheo, được tăng trưởng với năm sự tăng trưởng này, một nữ thánh đệ tử được tăng trưởng trong thánh tăng trưởng, nắm giữ được những lõi cây (căn bản, tinh vi), nắm giữ được những điểm tốt đẹp nhất về thân.” Đức Phật còn xác nhận sự chứng đạt của nhiều Tỳ- kheo-ni hay nữ cư sĩ. Ví dụ, trong kinh Đại-bát Niết-bàn(Trường Bộ), Ngài dạy: “Này A-nan, Tỳ-kheo-ni Nan-đà đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, sinh thiên giới và từ đó nhập Niết-bàn, không trở lại đời này nữa”. Và: “Này A- nan, nữ cư sĩ Sujata diệt trừ ba kiết sử, chứng dự lưu, nhất định không còn đọa ác đạo, đạt đến chính giác”. Ngay cả người phụ nữ mà những người được gọi là có đạo đức thời ấy thường tránh xa như kỹ nữ Ambapali, Đức Phật cũng thuận theo thỉnh cầu đến thọ trai và giảng Pháp tại nhà nàng, trong khi đó Ngài từ chối thỉnh cầu của đám thanh niên Licchavi quý phái. Về sau, nữ Tôn giả Ambapali tu theo Phật pháp và chứng quả A-la-hán. (xem kinh Đại-bát Niết-bàn vừa dẫn).

 Dù trong thời Ngài, người phụ nữ qua nhiều ngàn năm bị đối xử bất công, trí tuệ chậm lụt, Đức Phật vẫn nhìn thấy khả năng tiến bộ trong tu tập mà phát huy Phật tính vốn có trong mỗi chúng sinh, khả năng giải thoát, thành Phật của họ không thua kém gì nam giới nên đã chấp nhận phụ nữ vào Tăng đoàn. Khi vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) tỏ vẻ buồn vì hoàng hậu Mạt-lỵ (Malika) vừa sinh con gái chứ không phải con trai như mong muốn, Đức Phật đã dạy: “Này Nhân chủ, ở đời có nhiều thiếu nữ có thể tốt hơn con trai; họ có trí tuệ, giới đức; họ khiến nhạc mẫu thán phục, họ sinh con trai là anh hùng, là quốc chủ” (Tương Ưng Bộ, Tương ưng Kosala, phẩm 1, Người con gái).

Lịch sử tu tập và hoằng hóa của các nữ đệ tử Phật đã chứng tỏ trí tuệ, đạo đức, khả năng tinh tấn, chứng đắc của phụ nữ không thua sút nam giới. Và dĩ nhiên vị trí, vai trò, chức năng xã hội của người phụ nữ cũng ngang hàng với nam giới.

 Quyền của phụ nữ và trẻ em đã được phát hiện rất sớm trong kinh điển Phật giáo. Đó là những lưu ý quan trọng trong bảy pháp đặc thù mà Đức Phật đã dạy cho người dân Vajji. Theo Đức Phật, nếu như người dân Vajji không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajji phải sống với mình thì dân Vajji sẽ cường thịnh. Sự ghi nhận đó đã chứng tỏ quyền của phụ nữ và trẻ em đã xuất hiện và được pháp luật bảo hộ. Trong kinh Saleyyaka còn nêu rõ, nếu như thực hiện quan hệ tính dục với hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở ( trích Kinh Trung bộ, tập 1, kinh Saleyyaka, số 41)… thì bị coi là tội phạm.
Không phải đợi đến ngày nay quyền phụ nữ và trẻ em mới được công nhận mà ngay từ thuở xưa, Đức Phật đã đề cập và tán thán về các quyền nhân bản này. Do đó,
những trích dẫn trên từ kinh điển chứng tỏ Phật giáo là tôn giáo đầu tiên công nhận bình đẳng giới, bênh vực quyền lợi người phụ nữ. Cho dù Phật dạy nam nữ bình đẳng trong phẩm chất tâm linh, và tự mình phải tìm cầu giải thoát chứ không phải có con trai mới đảm bảo được hạnh phúc miên viễn; thế nhưng chính cả những xã hội chủ yếu theo đạo Phật, người ta vẫn khát vọng có con trai, cả đến ngày nay, chỉ vì tư tưởng quá thâm căn cố vị về sự trịch thượng cao tột của phái nam.

2. Hình tượng người phụ nữ trong Phật giáo Việt Nam: 

    Người Việt cổ ở đồng bằng Bắc bộ  đã tạo dựng quốc gia Văn Lang – Âu Lạc dựa trên văn minh nông  nghiệp  lúa nước. Nền văn minh ấy tạo cho con người nét cá tính thuần hậu, cởi mở, đa chiều, khẳng định vai trò của người phụ nữ và  một hệ  tín ngưỡng phản ánh những xúc cảm tẩm lý cùng  khát vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

a. Phật Mẫu Man Nương và hệ thống thờ Tứ Pháp:

  Ra đời từ vùng Dâu – Bắc Ninh và lan tỏa ra khắp đồng bằng Bắc bộ như minh chứng cho sự hỗn dung giữa Đạo Phật và tín ngưỡng bản địa. Khi tiếp thu đạo Phật của Ấn Độ, người Việt đã sáng tạo nên hình tượng Phật Mẫu man Nương và  một dòng Phật giáo dân gian thờ Tứ Pháp hết sức đặc sắc. Nói cách khác, các nữ thần của tín ngưỡng bản địa đã được Phật hóa, được mang Phật tính song vẫn vô cùng gần gũi với cư dân. Họ vốn là Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng nay trở thành Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện thờ ở bốn ngôi chùa, quy tụ quanh Phật Mẫu Man Nương …Phật Mẫu có thể xem như hình ảnh của người Mẹ khởi nguyên vốn xuất hiện rất sớm rồi hỗn dung với Phật giáo mà ra đời   hệ thống thờ Tứ Pháp và phát triển thêm một bước nữa trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt sau này.  

b. “ Nữ tính hóa ” trong Phật giáo Việt Nam :

 Trước hết là việc Nữ tính hóa hình tượng Quán Thế Âm : Trong Phật giáo Ấn Độ, Quán Thế Âm là một vị Phật giới tình nam. Khi du nhập vào Giao Châu và vùng đất phía nam Trung Hoa thì vị Phật này – một cách tự nhiên được biến đổi sang hình tướng nữ và trở thành Phật Bà Quán Âm hay  Quán Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát Quán Thế Âm được người Việt gọi giản dị là “Phật Bà”, hiện thân của Đức Từ Bi, cứu khổ, cứu nạn, mà người phụ nữ là người đau khổ nhất, cần cứu vớt nhất. “Phật Bà” cũng là hiện thân của một người Mẹ hiền, của tình mẫu tử thiêng liêng không một tình yêu thương nào sánh nổi.

- Hiện tượng Bà Chúa Xứ thờ ở Núi Sam, Châu Đốc cũng là một minh chứng cho xu hướng “ Nữ tính hóa “ này. Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941,  thì  tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Visnu (nam thần), được tạc vào khoảng cuối thế kỷ 6. Quả thật, đó là một nam thần được tạc trong thế ngồi vương giả rất quen thuộc của thần Visnu trong thần thoại Ấn Độ. Chất liệu tạc nên pho tượng cùng với bệ đá đặt tượng đều không có ở vùng núi An Giang và các vùng phụ cận. Song điều đáng quan tâm ở đây là khi phát hiện pho tượng, người dân đã đưa về thờ và tô điểm theo sở nguyện của mình để trở thành “Bà Chúa Xứ” – người Mẹ xứ sở thiêng liêng của cả vùng Nam bộ. Trong tâm thức dân gian, “Bà Chúa Xứ” cũng được coi như một “Phật Bà Quan Âm” vậy.

- Sự hóa thân của Phật Bà vào các hình tướng nữ:

Trong Phật giáo Việt Nam còn xuất hiện nhiều hình tượng như Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Tống Tử, Bà Chúa Ba Chùa Hương v.v…đều là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát để cứu độ chúng sinh. Với nhân dân, họ là hình tượng tiêu biểu của những người vợ dịu hiền, chịu thương chịu khó như Thị Kính, người con gái hiếu thảo hết lòng yêu thương cha mẹ như  Bà Chúa Ba, đức hy sinh cao cả của họ đã lay động cả Thần, Phật, đất trời.  Phải chăng, dân gian đã mượn hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát để nói lên khát vọng được thấu hiểu và cứu vớt của những người phụ nữ khổ đau trong xã hội, cũng như khẳng định  phẩm hạnh đáng trân trọng của họ. Nỗi khổ đau oan trái ấy chỉ  có sức mạnh và tình yêu thương vô bờ bến của Phật Bà mới cứu vớt nổi. Đi từ Bắc vào Nam, ta còn có thể gặp nhiều  hình tượng phụ nữ khác vốn là những người Mẹ Xứ Sở sau mang Phật tính được thờ phụng thiêng liêng như Chùa Thiên Mụ ở Huế, Tháp Bà ở Nha Trang,  núi Bà Đen ở Tây Ninh v.v…Vào trong càc ngôi chùa, ta lại thường thấy có Ban thờ Mẫu.

Đó cũng là một hiện tượng đặc biệt của Phật giáo Việt Nam, sự hòa hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân bản địa.

c. Chùa làng và người phụ nữ

Dân gian có câu: “ Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” hay “Cây đa, bến nước, sân đình” … Thiết chế văn hóa làng Việt  không thể thiếu đình và chùa. Đó là một cặp sóng đôi trong tâm thức người Việt, thể hiện triết lý nhân sinh và tinh thần khoan dung hòa hợp trong đời sống tín ngưỡng của người Việt.

  Thế nhưng, ngôi chùa làng lại là nơi lấy lại vị thế của người phụ nữ, tạo nên nét bình đẳng làng xã trong sinh hoạt cộng đồng làng quê xưa. Chùa làng chính là nơi dành cho họ, “Trẻ vui nhà, già vui chùa”. Hình ảnh các bà, các mẹ dắt theo con cháu, cùng  các cô thôn nữ  rủ nhau đi Lễ Chùa đã từ lâu đã trở nên quen thuộc, thân thương, gợi cho người ta hình ảnh về một làng quê thanh bình, yên ấm. Không chỉ đi lễ chùa, những người phụ nữ lớn tuổi  trong làng, thường gọi các vãi  là những người tham gia giúp  việc nhà chùa một cách tự nguyện, vô tư như một nhu cầu tinh thần. Hiện nay,  tại các thành phố lớn cũng thấy hiện tượng nhiều phụ nữ lớn tuổi tham gia vào các “ Đạo tràng”. Nhiều bà nhiều chị trong đó vốn là những nhà giáo, những thầy thuốc hoặc nguyên là cán bộ công chức ở nhiều ngành khác nhau, khi về hưu, hoạt động trong tổ dân phố, tham gia sinh hoạt trong tổ chức này một hoạt động thiện nguyện. Do đó, người nữ Phật tử thời nào và ở đâu cũng luôn hướng tới cái thiện, luôn sống công, dung, ngôn, hạnh.

Tiết quý thu, năm Giáp Ngọ, PL2558

                              Tác giả

 

                                                                                                              

  Cư sĩ  Minh Thiện – Đặng Văn Dân



Cư sĩ Minh Thiện- Đặng

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email



Những bản tin khác:
Đại lễ Vu Lan (01.09.2017 07:24)
Mùa vu lan báo hiếu (14.08.2015 00:27)
Cúng cô hồn (28.07.2014 23:03)



Lên đầu trang
   Bạn là vị khách thứ:

926554

   Quảng cáo
Gửi bài: Email: info@thientam.vn, ĐT:0913 239594 - 0904 087882
Thiết kế bởi www.nghilucsong.net